Nước bạn đang sử dụng an toàn đến mức nào?

Trong thế giới hiện đại ngày nay, nguồn nước uống sạch sẵn có được coi là xương sống của nền văn minh. Chúng ta hầu như không đoái hoài đến điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta mở vòi nước trong nhà mình và có một nguồn cung cấp nước uống sạch và an toàn không giới hạn.

Tuy nhiên, dù cho đã có nguồn nước sạch, thì vẫn luôn tồn tại những vấn đề về cung cấp nước công cộng. Ở Mỹ, trung bình có khoảng 7,000 thông báo đun sôi nước (Boil water notices) khi mà các nhà cung cấp nước yêu cầu nước phải được đun sôi trước khi dùng để uống do các vấn đề với nguồn cung cấp nước khiến nó trở nên không đủ an toàn để uống. Thêm vào đó, có những vấn đề đáng chú ý về việc nguồn cung cấp nước bị ô nhiễm và có khả năng gây rủi ro đến người uống nước.

Lịch sử xử lý nguồn nước công cộng

Việc xử lý nước dưới nhiều hình thức đã được biết đến từ rất lâu khi những người Hy Lạp và Ai Cập cổ đại lọc và đun sôi nước hoặc sử dụng phèn để loại bỏ các chất cặn lắng trong nước từ những năm 1500 trước Công nguyên. Hầu hết các nền văn minh đều trông cậy vào nước từ những nguồn nước sạch, sau đó các cống dẫn nước của La Mã sẽ mang nước từ bên ngoài vào các thành phố như Rome.

Công trình Dòng Sông Mới (New River) ở London được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII, nó được thiết kế nhằm làm chậm dòng chảy để làm tăng các lớp trầm tích và dòng nước được sàng lọc dọc theo lộ trình của nó để có thể giữ lại các loại cỏ dại và các mảnh vụn.

Một trong những động lực chính cho sự cải thiện hệ thống xử lý nước là sự ra đời của bồn cầu nhà vệ sinh (toilet) sử dụng lưu lượng nước dâng lên để xả chất thải. Trước thời điểm này, phần lớn các bể tự hoại được sử dụng cho chất thải rắn, tuy nhiên, lượng nước tăng thêm tạo ra các hố tràn và làm ô nhiễm các dòng sông và các nguồn nước khác dẫn đến bệnh tật. Để minh họa cho tình hình này, ở Chicago, lượng nước sử dụng trên đầu người đã tăng từ 33 gallon lên đến hơn 144 gallon trong vòng chưa đầy ba mươi năm.

Sự gia tăng nhận thức về việc truyền nhiễm các bệnh như dịch tả, thương hàn và sốt vàng (yellow fever) trong thế kỷ 19 được thể hiện ở việc nhu cầu ngày càng tăng trong việc lọc và xử lý nước uống đô thị. Sự phát triển của các thành phố và sự ô nhiễm của các nguồn nước gần đó bởi nước thải và chất thải công nghiệp khiến cho nhu cầu về việc nâng cấp hệ thống xử lý nước ngày càng gia tăng.

Tại thời điểm này, những hiểu biết về sự lây lan của bệnh tật vẫn còn rất cơ bản khi mà nhiều nhà khoa học vẫn cho rằng các bệnh như dịch tả lây truyền qua tuyến mồ hôi. Nhà khoa học John Snow đã sử dụng mô hình dữ liệu ban đầu để chỉ ra rằng dịch tả đã lây truyền thông qua nguồn nước, vào năm 1854, ông đã có thể chứng minh rằng một đợt dịch tả bùng phát ở London có thể được tìm ra từ một cái giếng trên phố Broad (Broad Street).

Sau đó, tại Lowell, MA sau khi dịch bệnh thương hàn bùng phát vào năm 1890, William Thompson Sedgwick đã áp dụng các phương pháp vi khuẩn học trong nghiên cứu và đã chứng minh được mối liên hệ giữa nguồn nước bị ô nhiễm với căn bệnh này.

Phương pháp xử lý nước hiệu quả thay vì cách thức lọc đơn giản để loại bỏ các chất cặn rắn bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20. Năm 1902, thành phố Jersey trở thành thành phố đầu tiên ở Mỹ sử dụng phương pháp khử trùng bằng Clo để cải thiện độ an toàn của nước. Tuy nhiên, một số người vẫn cho rằng cần phải xử lý nước bằng hóa chất, trường hợp này đã được minh chứng qua một sự cố vào năm 1916.

Vào ngày 14 tháng 1 năm 1916, thiết bị khử trùng bằng Clo ở Milwaukee, Wisconsin, đã ngừng hoạt động trong 7 tiếng. Vào thời điểm đó, nước được bơm từ hồ Michigan đã gây ra khoảng từ 25.000 đến 100.000 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy và 500 trường hợp mắc bệnh thương hàn, trong đó có 60 ca tử vong. Đến thời điểm này, nhu cầu về xử lý nước đã trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.[1]

Hệ thống xử lý nước hiện đại

Hệ thống xử lý nước hiện đại được tạo thành từ một số quy trình, chúng sẽ có chút khác biệt tùy theo từng vùng.

Khi nước đã được xử lý xong, nó được lưu trữ ở các bể chứa đóng kín trước khi được bơm qua hệ thống đường ống đến nhà bạn.

Các vấn đề tiềm tàng của hệ thống xử lý nước

Việc xử lý nước được kiểm soát rất chặt chẽ và nước đầu ra thường được giám sát để đảm bảo an toàn và nằm trong các tiêu chuẩn có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, vẫn có những mối lo ngại tiềm ẩn với việc sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý nước.

Chẳng hạn, Clo phản ứng với các hợp chất hữu cơ tự nhiên trong nước có thể tạo ra những sản phẩm hóa học phụ có khả năng gây hại. Những sản phẩm phụ này, trihalomethanes (THMs) và axit haloacetic (HAAs) đều là các hoạt chất có thể gây ung thư nếu tiêu thụ số lượng lớn và đã được quy định bởi Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA).

Sử dụng Ozon tạo ra ít sản phẩm phụ hơn, tuy nhiên, người ta phát hiện ra rằng ozon phản ứng với các ion Bromua (Bromide ion) trong nước làm tăng nồng độ của một chất có khả năng gây ung thư - Đó là Bromat. Nồng độ Bromua trong nước sạch được cung cấp đủ để tạo ra (Sau quá trình ozon hóa) chất Bromate với nồng độ hơn 10 phần tỷ (ppb) - Nồng độ ô nhiễm cao nhất được phép theo công bố của Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA).[2]

Sự cố của quá trình xử lý nước

Bất kỳ quy trình nào cũng có những lúc bị lỗi, đây là lúc mà công ty nước địa phương của bạn sẽ đưa ra một "thông báo đun sôi nước" (Boil Water Notice). Thông báo này được đưa ra khi có vi khuẩn hoặc virus trong nước ở mức không thể chấp nhận được hoặc nước bị vẩn đục ở mức không chấp nhận được.

Một "thông báo đun sôi nước" (Boil Water Notice) có thể do một số lý do, chẳng hạn như việc đường ống dẫn nước chính bị vỡ hoặc bị rò rỉ là nguyên nhân của hơn một nửa các thông báo được đưa ra dẫn đến mức ô nhiễm và nhiễm khuẩn được xác nhận lên đến gần 14%.[3]

Thông báo đun sôi nước (Boil Water Notices)

Khi nguồn cung cấp nước của bạn có vấn đề, có thể nước máy nhà bạn trông vẫn bình thường và không có vị gì lạ nhưng nó có thể bị ô nhiễm vi mô như vi khuẩn hoặc virut. Khi công ty nước của bạn phát hiện ra vấn đề gì, thì bạn sẽ được khuyên nên đun nóng nước đến khi sôi lên khoảng ít nhất là 1 phút để đảm bảo nước đã đủ an toàn để sử dụng.[4]

Không phải ai cũng hiểu và có những cách phản ứng đúng đối với một thông báo được đưa ra, gần một nửa số người nhận được thông báo đun sôi nước (48.3%) sẽ lờ nó đi.[5] Kể cả khi mọi người nhận thức được yêu cầu phải đun sôi nước, nhưng 87% số người đó vẫn giữ những thói quen có vẻ sẽ làm tăng thêm rủi ro của sự ô nhiễm như quên đun nước sôi để đánh răng (54%) hoặc chế biến thức ăn bằng nước chưa đun sôi (17%).[6]

Do đó, kể cả khi đã rất cẩn thận thì bạn vẫn có thể khiến bản thân hoặc gia đình mình gặp rủi ro khi bỏ lỡ một thông báo đun sôi nước hoặc không thực hiện đúng theo hướng dẫn do ảnh hưởng của thói quen bất cẩn. Thêm vào đó, có thể phải mất một khoảng thời gian trước khi thông báo đun sôi nước có hiệu lực được công bố và trong lúc đó thì bạn đã có thể gặp rủi ro với nguồn nước không an toàn rồi.

Các vấn đề với nguồn cung cấp nước

Khắp nước Mỹ vẫn tồn tại nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với nguồn cung cấp nước, bao gồm:

Đã có bằng chứng về việc có những vấn đề về nước trên khắp nước Mỹ. EPA tuyên bố đã có 41 bang được báo cáo có nồng độ chì trong nước uống vượt mức cho phép. Hiệp hội kỹ sư dân dụng Mỹ (The American Society of Civil Engineers) cho rằng cần phải có một khoản đầu tư khoảng 80 tỉ Đô la để giải quyết các vấn đề về cơ sở hạ tầng xử lý nước, thứ mà đã tồn tại hơn 150 năm nay.[7]

Cuộc khủng hoảng Nước ở Flint

Vấn đề gần đây nhất liên quan đến nguồn cung nước ở Mỹ là tình trạng khủng hoảng nước đang xảy ra ở Flint, bang Michigan.

Nguồn cung cấp nước ở Flint đã thay đổi vào tháng 4 năm 2014 do thay đổi nguồn cung cấp nước của Sở cấp thoát nước Detroit từ hồ Huron và Sông Detroit sang nguồn nước từ sông Flint. Báo cáo cho rằng các chất ức chế ăn mòn đã không được sử dụng khiến cho chì từ các ống nước bị lão hóa rò rỉ vào nguồn nước. Người ta phát hiện ra có 29.100 ống chì đã lão hóa cần được thay thế trong hệ thống xử lý nước của Flint.[8]

Chì được sử dụng vào đầu thế kỷ XX trong việc kết nối các vật dụng gia đình làm bằng gang chủ yếu là vì nó dễ làm và chi phí rẻ. Từ đó, người ta phát hiện ra rằng các ống dẫn bằng chì có thể làm chì bị lẫn vào nguồn nước đặc biệt là nếu có chất gây ô nhiễm trong nguồn nước. Hệ thống xử lý nước trước đó nhằm giữ cho nồng độ chì trong nước ở mức có thể chấp nhận được, tuy nhiên, hệ thống xử lý nước mới lại không xử lý được nồng độ tương tự.

Người ta cho rằng không có nồng độ chì trong máu nào được coi là tuyệt đối an toàn. Trẻ em dưới 5 tuổi đặc biệt là trẻ sơ sinh và những đứa trẻ còn trong bụng mẹ sẽ chịu rủi ro lớn nhất từ cái gọi là "Hậu quả có hại cho sức khỏe và không thể phục hồi".[9]

Ở Flint, khoảng từ 6,000 đến 12,000 trẻ em đã tiếp xúc với nước uống có nồng độ chì cao và chúng có thể phải trải qua hàng loạt các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe.[10] Sự thay đổi về nước cũng là một nguyên nhân có thể dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh Legionnaires (một loại bệnh về nhiễm khuẩn) ở một vùng và đã giết chết 10 người và làm cho 77 người khác bị nhiễm bệnh.[11]

Trong thời gian này vẫn chưa thể biết được mức chi phí có thể phải trả cho sự cố này hoặc những ảnh hường về lâu dài của nó là gì.

Hãy chắc chắn rằng bạn an toàn

Để giảm thiểu rủi ro từ nguồn nước bị ô nhiễm bạn nên chắc chắn rằng nếu bạn nhận được một thông báo đun sôi nước, bạn phải đảm bảo rằng mọi người đều hiểu được yêu cầu của thông báo đó là gì, và bạn phải nhớ đun sôi nước mỗi khi sử dụng, kể cả để đánh răng và chuẩn bị đồ ăn.

Một giải pháp thay thế khác là sử dụng hệ thống lọc nước thứ 2 (thứ cấp) trong nhà bạn. Những hệ thống này sử dụng môi trường lọc carbon cũng như tia cực tím, khi kết hợp với nhau nó có thể loại bỏ các kim loại nặng như chì, chất rắn và các loại hóa chất như Clo và tiêu diệt các loại vi khuẩn hoặc vi rút trong nguồn nước của bạn. Đó là một cách để chắc chắn rằng gia đình bạn vẫn an toàn cho dù có chuyện gì xảy ra với nguồn cung cấp nước ở thành phố của bạn.

Những sản phẩm tiết kiệm chi phí này có thể cài đặt dễ dàng trong nhà bạn và khiến bạn yên tâm hơn, cũng như làm cải thiện mùi và vị của nước.

Tài liệu tham khảo

[1]^Foss-Mollan, Kate. Hard Water: Chính trị và nguồn nước ở Milwaukee, 1870–1995. West Lafayette, Ind: Purdue University Press, 2001
[2]^Neemann, Jeff; Hulsey, Robert; Rexing, David; Wert, Eric (2004). “ Việc kiểm soát sự hình thành Bromate trong quá trình Ozon hóa với Clo và Ammonia ”. Tạp chí hiệp hội ngành nước của Mỹ
[3]^Pelican Water Systems – Boil Water Infographic
[4]^Tổ chức y tế thế giới (WHO) – Cơ sở khoa học về hiệu quả của việc đun sôi nước
[5]^Tổ chức y tế cộng đồng MBC (BMC Public Health): Giao tiếp, nhận thức và ứng xử trong các thảm họa tự nhiên liên quan đến các thông báo "Không được uống" ("Do not Drink") và sau đó là thông báo "Đun sôi nước" ("Boil Water): Một bảng câu hỏi nghiên cứu qua đường bưu điện.
[6]^Tổ chức Cộng đồng và Sức khỏe cộng đồng ở Bờ Tây (Community and Public Health West Coast): Hiệu quả của thông báo Đun sôi nước đối với người tiêu dùng
[7]^PWS: Nguồn nước cung cấp bởi liên bang
[8]^Tạp chí The Flint: Số hộ gia đình cần ống nước mới ở Flint đã tăng gấp đôi
[9]^Hanna-Attisha, Mona; LaChance, Jenny; Sadler, Richard Casey; Champney Schnepp, Allison: Nồng độ chì trong máu ở trẻ em tăng cao do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nước ở Flint.
[10]^WMEN: United Way ước tính chi phí hỗ trợ trẻ em lên đến 100 triệu Đô la.
[11]^Al Hajal, Khalil: Các vấn đề tiềm tàng liên quan đến nước ở Flint
  • Category
  • Nav menu